Những điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2015

Luật Doanh nghiệp năm 2014 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2014 và có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2015. Luật mới được đánh giá là phù hợp với thực tế kinh doanh hiện nay và tháo gỡ nhiều khó khăn, hạn chế. Điểm lại một số nội dung liên quan đến người làm Kế toán. 

 

 

1.  Giấy chứng nhận đăng ký của Doanh nghiệp mới thành lập.

Theo Điều 29 Luật Doanh nghiệp 86/2014/QH13 quy định:

“Điều 29. Nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

1. Tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp.

2. Địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp.

3. Thông tin Người đại diện theo Pháp luật của Doanh nghiệp.

4. Vốn điều lệ.”

Giấy chứng nhận đăng ký Kinh doanh của Doanh nghiệp sẽ không còn thông tin ngành nghề kinh doanh cũng như Vốn pháp định của Doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh khi đăng ký thành lập Doanh nghiệp. Luật cũng quy định Hộ kinh doanh có từ 10 lao động trở lên sẽ phải đăng ký thành lập Doanh nghiệp.

Như vậy, Doanh nghiệp được quyền tự do kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm.

2. Quy định về con dấu.

Doanh nghiệp có thể có hoặc không có, có một hoặc nhiều con dấu.

Trước ngày 01/7/2015, các cơ quan Công An được phân quyền sẽ là đơn vị quy định thống nhất mẫu con dấu, khắc dấu và cấp Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu. Mực in dấu thống nhất phải là màu đỏ.

Sau ngày 01/7/2015, Doanh nghiệp có quyền tự quyết định hình thức, số lượng và nội dung con dấu của Doanh nghiệp chỉ cần có đủ thông tin về Tên và Mã số của Doanh nghiệp; đăng ký việc sử dụng con dấu này với cơ quan Đăng ký kinh doanh và được đăng tải công khai trên Cổng thông tin Quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Theo đó, Doanh nghiệp tự chủ, tự quản lý và chịu trách nhiệm về dấu pháp nhân của Doanh nghiệp. Xu hướng hiện nay là sử dụng chữ ký và chứng từ điện tử thì việc sử dụng con dấu không còn nhiều ý nghĩa nữa.

3. Người đại diện theo Pháp luật của Doanh nghiệp.

Người đại diện theo Pháp luật của Doanh nghiệp có thể 1 hoặc nhiều người, được Quy định trong Điều lệ của Công ty, nhưng bắt buộc phải có ít nhất 1 người cư trú tại Việt Nam (đối với Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Nếu người đại diện theo Pháp luật này xuất cảnh khỏi Việt Nam thì phải có văn bản ủy quyền cho người khác nhưng không miễn trừ các trách nhiệm đối với các vấn đề pháp lý của Doanh nghiệp trong thời gian ủy quyền.

4. Quy định khác.

 Luật 68/2014 bãi bỏ quy định Giám đốc (Tổng Giám đốc) Công ty Cổ phần không được làm Giám đốc (Tổng Giám đốc) Công ty Cổ phần hoặc các loại hình Doanh nghiệp khác.

Hỗ trợ trực tuyến
Ms.Huyền:
Ms.Hạnh :
Tìm chúng tôi trên facebook
Thống kê truy cập
Đang online
0
Tổng số truy cập
0